Đặc San HQ 21

Đặc San HQ 21
Nha Trang Ngày Về Kỳ 9

Sunday, April 28, 2024

Tháng 4 Đen


BỊ GẠT

Tác Giả: Trương Văn Út
Mũ Đỏ Út Bạch Lan
Chúng ta đã sinh ra lầm thế kỷ
Nước mắt, nụ cười gian dối gạt lừa nhau.
Và hạt cát cũng căng đầy thù hận
Tri kỷ gì thứ tình nghĩa đã chia ly…?!
“Văn Chương Miệt Vườn” thành danh, thành điển tích như Cụ Đồ Chiểu đã hoa gấm đi vào Văn Học Sử thênh thang rất đáng kính cẩn và trân trọng… còn thứ “văn tri chướng; cà chớn hạng” của tôi đọc “dễ hiểu” chỉ để tiêu khiển “một vài trống canh”, lại có đôi chút “gút mắc” với một số “nhân vật chí” hiện thân, hiện thời đang sinh hoạt chìm nổi tại xứ người tự do, hành sự khuất tất phía sau hậu trường “cung đình Đỏ” rối như mớ bòng bong… quả thật là không đơn thuần giản dị chút nào, là thật sự “khó tiêu” và đáng tiếc vô song! Vì “cánh màn nhung” của vở bi hài kịch có vô số thân xác, máu xương, da thịt người Việt làm “phân bón” cho loài “cây” gian độc rúc rỉa sinh sống, đơm hoa kết trái vật chất, tiền tài, tích sản là thành quả của trí “khôn” gian trá vô lượng đã “biết” thức thời vụ với “đại âm mưu” là “đại biện chứng” mà thành “gian nhân hiệp đảng” mặc tình lấy cường bạo thịnh thời vung tay bẩn mà che cao xanh, lấy vải ác độc mà bịt nhân đức… hỏi được bao lâu “con rắn hồng lột xác” vẫn chưa xong và chưa chung cuộc hý trường… như tôi viết ở khoảng không du du bỉ phương và thiên võng khôi khôi sơ nhi bất thất… giữa hai hàng chữ không giản dị chút nào và đáng tiếc?! Mong quí Độc Giả độ lượng tha thứ.
“Bên thắng cuộc” hay thực sự bị thua cuộc? Thắng trận hay thua trận, nay đã trở thành một “mặt trận” văn chương chữ nghĩa trong cộng đồng người Việt Tự Do tị nạn cộng sản tại hải ngoại và cũng tự tranh biện, bênh và chống mà “cái” hay, tốt đẹp của Hoa Tự Do được đơm hoa, kết trái ở trú xứ Tự Do đưọc thể hiện và minh chứng với tiến trình lịch sử loài người tiến hoá không ngừng cho đến nay… và mai hậu làn gió Tự Do - Dân Chủ sẽ thổi vào Việt Nam thành bão lửa là qui luật chính trị: “nơi nào có áp bức, nơi đó có đấu tranh”… và thứ “văn hoá theo lề phải” là thứ đứng lại, nghịch triều lưu sẽ bị nhận chìm và chết tiệt! Tôi đọc riết rồi bị động não, mang tâm bịnh nhớ dai, càng nhớ dai càng thêm khổ lụy cho bản thân mình! Nghĩ cho cùng “kẻ thiệt” chính là “ta” cưu mang thành nặng gánh u hoài!
Thôi hãy gấp lại những bài vở mang mang và những trang sách đã rách “giữ lấy lề” nệ cổ của Thư Cưu thời quá vãng… đành viết chuyện “Tôi Bị Gạt” góp “mặt” với làng Văn có lẽ bằng hữu và độc giả đọc không vui cũng lượng thứ?
BI GẠT
Tác Giả: Trương Văn Út
Mũ Đỏ Út Bạch Lan
Ngày 30-4-75 là ngày đã ngã ngũ thắng hay thua? Một lằn ranh của kẻ thắng trận và Người bại trận đã được chế độ mới vạch ra rõ ràng bằng mực đỏ! Kẻ thắng trận tiểu nhân đắc chí hoạch định sách lược cường quyền “xử lý”: bắt bớ, giam cầm, đày đoạ, trả thù, nô lệ hoá toàn thể Quân Dân miền Nam là Người bại trận. Trong những Người bại trận đó có tôi và đương nhiên với “mệnh Nước vận Nhà” đành câm nín, âm thầm nhẫn chịu, ta thán có ích gì! Nhưng có điều chua xót đớn đau phải ghi tâm khắc cốt. Đó là tôi bị gạt để đời, môn học mà trường lớp thời niên thiếu với Thầy, Cô lòng son và phấn bảng không dạy bao giờ. “nó” chỉ có ở trường đời biển lận mà thôi!
Bị Gạt Lần Thứ Nhất
Sau 30-04-1975, tan hàng! Phút chốc công danh sự nghiệp trở thành mây khói, nhà cửa “tài sản” chỉ còn lại vài bộ áo quần dân sự, thắng về nội thối về ngoại, Tôi dắt díu vợ con tá túc nhà ngoại, tâm trạng như kẻ mất hồn, chạy đầu này tìm người này, chạy đầu nọ tìm người kia, họ cũng như tôi tâm trạng rối bởi chẳng khác gì nhau! Nghe tin tức trên đài phát thanh: “Tất cả sĩ quan cấp Úy trở lên trình diện học tập cải tạo, nhớ mang theo tiền ăn cho 10 ngày…”. Tưởng bở, tôi từ giã vợ con với lời nhắn nhủ: “ Em gắng chờ Anh về. mình sẽ về Mỹ Tho xin Ông Nội vài sào đất, cất một cái chòi, trồng trọt nuôi con ăn học nhé…”!
Sau 10 ngày ở trại “giam” Hóc Môn (Thành Ông Năm) với các bữa ăn do các nhà hàng nổi tiếng ở Chợ Lớn như: Đồng Khánh, Bát Đạt, Soái Kinh Lâm… cung cấp và chờ đợi rồi dần sau đó cũng bắt đầu với những bữa ăn “thanh đạm” với rau muống, rau lang luộc cùng đậu hủ trắng… cho đến tháng thứ ba, quản giáo xuống “khối” của tôi gọi tên ba người và ra lệnh:
– Các Anh chuẩn bị đồ đạc để về với gia đình…
Đại Úy Bác Sĩ Trương Thìn, Thiếu Tá Bác Sĩ Trần Đông A, Đại Úy Bác Sĩ Trần Văn Thành”… và còn nhiều nữa… Cả trại xôn xao trong nỗi mừng vui khôn xiết vì tưởng rằng rồi nay mai cũng sẽ tới phiên mình…
Nhưng tất cả đều bị gạt. Những người được “tha” về, đều nằm trong danh sách đặc biệt của “bên thắng trận”. Rồi thời gian bị giam cầm chầm chậm trôi qua trong chờ đợi mòn mõi của tù nhân!
Những chứng bịnh như: phù thủng, đau ruột, đau gan, đau bao tử… xuất hiện, không thuốc thang chữa trị! Tôi bắt đầu bẫy chuột, chuột gì cũng bắt hết ráo trọi, chuột chù, chuột cống, chuột nhắt… dưới bàn tay “tài hoa ngự thiện phòng” chế biến món ăn của tôi đã trở thành “cao lương mỹ vị”, và tôi còn thu lượm những cọng rau muống già đã được nhà bếp vất đi, chẻ ra từng sợi nhỏ rồi chế biến thành “thượng phẩm”, giúp cho những người thiếu chất đạm đang bị phù thủng ăn cho có chất dinh dưỡng.
Ban đầu họ lợm giọng không dám ăn! Nhưng rồi vì muốn được khoẻ mạnh đành phải ăn để sống, sau dần dà họ cám ơn những tên tù bất kham như tôi đã “khổ” công thức đêm rình mò bẫy chuột, cung cấp cho họ món ăn “thuốc” thịt chuột “nguồn” bổ dưỡng cứu sống mạng người đang vật vã vì bệnh tật trong trại giam…
Nên đêm đêm nằm kế bên nhau, họ ngâm khe khẻ cho Tôi nghe bài thơ “Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ” nghe qua sao lòng quặn thắt đớn đau như thọc mũi dao nhọn vào nách con chuột, moi cục hạch hôi ra và thân đau tê tái “Hổ” nhớ rừng gặm nhấm mối hờn trong cũi sắt, rồi nhớ thuở tung hoành hiên ngang tang bồng hồ thỉ trong khắp Bốn Vùng Chiến Thuật với tay súng dài XM18, súng ngắn Colt 45 dẫn quân lên Slick trực thăng ầm ĩ tiếng cánh quạt phành phạch xé gió của những hoa tiêu “Bảo Quốc Trấn Không” không bỏ anh em, không bỏ bạn bè bay xông vào trận mạc với hai hàng Gunship hùng hổ hộ tống sẵn sàng khạc từng tràng đạn và phóng nện rocket như thiên lôi giáng vào đầu quân địch…
Nhưng nay thân đành thúc thủ, bị giam cầm, bẫy chuột, nhặt rau thừa độ nhật cho qua ngày đoạn tháng kéo lê lết một năm tù… cho đến khoảnh khắc quyết định sinh tử: “tự do hay chết”? Chứ ở tù như hiện tại không biết đến ngày nào được thả ra và “cái” chết đều đồng nghĩa như nhau!
Tôi đã đánh cuộc với định mệnh lấy cái chết của mình để tìm tự do, Tôi vượt ngục đào thoát được khỏi nhà tù nhỏ và bây giờ bị sống trong nhà tù lớn việt cộng bủa vây! Tôi đi về đâu? Về thành chăng? “Hổ” phải về rừng cớ sao lại phải về thành và về thành rồi sẽ không chóng thì chầy cũng bị bầy lang sói khát máu tươi đang chực chờ cấu xé phanh thây Người chiến bại từng ngày, từng giờ, từng giây phút. Thiên la, địa võng thần chết quỷ đỏ bủa vây, phủ chụp xuống thân phận Quân - Dân hiền hoà miền Nam trong tuyệt vọng thế cô!
Kinh qua những “quốc sách” bọn quỷ đỏ việt cộng đã “xử lý” người dân Việt tại miền Bắc trước 1954 và Quân - Dân miền Nam Việt Nam sau 30-04-1975 đã nói lên tính chất khác biệt với toàn thể Dân Việt có nền tảng Văn Hiến giàu lòng Nhân Ái ở mọi mặt, luôn cả đối xử tử tế độ lượng với giặc thù ngã ngựa thua trận bị khuất phục trong lịch sử thời qua, và ngay cả trong cuộc chiến Quốc - cộng 21 năm dài, chúng ta luôn đối xử Nhân Đạo với cán binh việt cộng bị thương hay bị bắt giữ tại chiến trường, có luật lệ và toà án xét xử nghiêm túc… và với Quốc Sách Chiêu Hồi ban hành để cải thiện, giúp người cán binh việt cộng có cơ hội sinh sống bình đẳng mưu cầu hạnh phúc trong thể chế tự do miền Nam. Những ai là Quân - Dân miền Nam lạm sát tù binh việt cộng hoặc thân nhân của họ sẽ bị pháp luật trừng trị rõ ràng nghiêm chỉnh… Tôi quyết định về rừng và bị gạt lần thứ hai.
Bị Gạt Lần Thứ Hai
Thoát được nhà tù nhỏ, Tôi đang bương chảy sống trong nhà tù lớn. Ở nhà tù lớn cái gì cũng: “Nhân dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân”. Mà “dân” chỉ là tầng lớp nô lệ bị “bắc bộ phủ” đô hộ cai trị còn khắc nghiệt hơn bọn rợ nhà Chu (Zhou Ye) tàn sát và cai trị nhà Thương (Shang Yin) 1040 trước Công Nguyên, triều đại Tần Thủy Hoàng (259 trước Công Nguyên) đốt sách chôn học trò, Thành Cát Tư Hãn (Genghis Khan 1162) rợ Mông Cổ với: “Vó ngựa của Đại Hãn đi tới đâu nơi đó không còn cỏ mọc”. Có tàn bạo như thế nào đi nữa cũng chỉ là đối xử với người khác chủng tộc và ở thời đại con người chưa được mấy văn minh và “từ vượn lên người phải mấy triệu năm”?
Ngày nay đương thời đồ đểu việt cộng ác độc ngự trị “từ Người xuống vượn chỉ cần một vài năm” thôi! Bọn cán bộ có quyền thế trong tay đang tiến nhanh, tiến mạnh chụp giật, vơ vét chiến lợi phẩm không chỉ là của cải, tài sản, xe cộ, vàng ngọc, đôla (dollar), bất động sản mà còn là thân thể phụ nữ xinh đẹp là vợ con của tù nhân Quân - Dân miền Nam… mà cả đời mơ ước của tên cán cuội bần nông quanh năm, suốt tháng phải trốn chui, trốn nhủi lẩn tránh trong xó rừng âm u cây lá thiếu ánh sáng mặt trời triền miên, đói cơm, sốt rét ngã nước thiếu thuốc và thèm khát hơi hám đàn bà lâu năm mà thành chứng bệnh “cà hước” di căn mang về thành trả thù trên thân thể phụ nữ đã chiếm đoạt…
Thành trì Ngũ Luân đạo lý của dân miền Nam đang bị thách đố và có cơ bị hủy hoại! Người dân hiền hoà miền Nam bị bao vây kinh tế, cuộc mưu sinh khốn khó để sống còn tất tả như vật vã bơi lội trong cơn hồng thủy nên giả dối, tráo trở, gạt lừa đã có “mặt” trong gia đình, xã hội, học đường và khắp cùng mọi lãnh vực đời sống là thể hiện “Thiên Đường xã hội chủ nghĩa cộng sản” từ đám quyền bính chóp bu “bắc bộ phủ” chí cho đến bọn “cán ngố lý trưởng” quê một cục tha hồ lập mưu gian “qui định” để giết người cướp của là cộng tài sản của dân lành miền Nam vào kho của cải thủ đắc của chúng.
Trong bối cảnh này, tôi phải luôn cảnh giác, không dám tiếp xúc với bất cứ ai ngay cả vợ con mình, sống lang thang không cửa không nhà, không một hào dính túi! “Hổ” sút móng lang thang đầu đường xó chợ, chạnh thân nhớ nhà, thèm bữa cơm no lòng đầm ấm đoàn viên! Phố xá quanh đây mà ta sao trơ trọi, hiểm nguy rình rập không lường, rừng đâu mà nhớ?
Tôi đánh bạo tìm cách liên lạc với Cha Mẹ đang sinh sống trên mảnh vườn cằn cỗi ở ngã ba Trung Lương, Mỹ Tho xin tiếp tế. Cha Mẹ tôi có năm đứa con “đi quân đội đã lâu rồi”. Sau ngày 30-4-1975, Bà như chết đi nửa đời người còn lại, khóc cạn nước mắt rồi kham nhẫn chịu đựng đau khổ cầu Trời, khấn Phật xin gia hộ cho tất cả năm đứa con đang thân bị giam cầm tù tội được bình yên… Nghe tin tôi vượt ngục Bà hối thúc Cha tôi phải tìm gặp “thằng Út” cho bằng được, và thế là tôi được dấu diếm tá túc ở nhà, dưới sự che chở của Cha Mẹ. Tôi đào một cái hầm dưới đáy tủ quần áo, phòng khi công an hay du kích xã Đạo Thạnh khám xét nhà thì tôi tức khắc chui vào tủ, rúc xuống hầm ẩn trốn. Trước kia ở thời Việt Nam Cộng Hoà thì bọn việt cộng chui rúc xuống hầm hố ngụy trang trốn tránh. Nay thời của quỷ đỏ thì tôi lại là kẻ trốn tránh. Ôi thôi thế sự thật bồng bềnh khéo trêu người!
Vài ngày sau đó, người Cậu thứ Tư tên Trương Văn Thân nguyên trước đây là Trưởng Ty Nông Nghiệp Tỉnh Định Tường ghé nhà thăm qua sự sắp xếp của Cha tôi, Ông nói:
– Con yên tâm tịnh dưỡng sức khoẻ, mọi việc đã có Cậu và Cậu Năm (Trương Văn Phước) lo liệu. Đây là quyết định của cấp trên, Cậu giao lại cho con…
Quyết Định của cấp trên là một tờ giấy đánh máy, bổ nhiệm cho tôi giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn II Sư Đoàn Tiền Giang với ám danh UBL45, ấn ký của Trung Tướng Ngô Quang Truởng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà. Trời hỡi?!!! Cậu Tư của tôi chỉ là một công chức hành chánh mà nay là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Tiền Giang, Cậu Năm của tôi vốn là một Y Tá đỡ đẻ nay đang là Quận Trưởng Quận Châu Thành, Mỹ Tho? Chết rồi, tôi không biết Cha mình đang giữ chức vụ gì đây, Mẹ tôi là giao liên cấp độ nào trong cái “Tổ Chức Kháng Cộng” này, không khéo là chết hết cả nhà? Tôi rơi vào tình trạng tiến thối lưỡng nan, làm thinh chịu trận! Trung Đoàn Trưởng mà chẳng có thằng lính nào trong tay, lại phải móc nối tìm kiếm ba “ông” Tiểu Đoàn Trưởng còn đang trốn chui trốn nhũi như việt cộng khi xưa nghe lính Cộng Hoà hành quân bố ráp. Bố khỉ!
Rồi chuyện gì tới phải tới. Vào một đêm tối trời vào khoảng 5 giờ sáng, tất cả đều bị công an chấp pháp Mỹ Tho vây bắt không sót một móng nào, chỉ có mình tôi nhờ cái hầm dưới đáy tủ quần áo mà thoát nạn. Cậu Tư bị án xử tử hình, Cậu chết trong thời gian bị việt cộng tra tấn cực hình để khai thác thêm những người liên hệ, Cậu Năm bị tù 20 năm khổ sai, Cha Mẹ tôi già cả yếu đuối, cũng may vì không nhận chức vụ gì nên bị thẩm vấn liên tục rồi bị xử quản thúc tại gia, còn hằng trăm người khác trong “tổ chức” bị bắt số phận của họ như thế nào dưới chế độ việt cộng “thà giết lầm hơn bỏ xót” chúng ta đã có nghe và biết qua rồi!
Riêng tên Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang là một cựu Trung Sĩ Nhất của Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù, nhận chỉ thị từ quan thầy Ty công an chấp pháp Mỹ Tho, bủa một mẻ lưới gom tất cả trọn cả bầy cá ngát ngây thơ muốn vượt “Vũ Môn” bất thành để rồi bị xử bắn thân xác vùi dập bụi bờ hoang dại đâu đó hay đã thả trôi theo dòng chảy của nhánh Tiền Giang cuồng nộ xuôi về biển Đông và dưới dòng nước phù sa trộn mầu đỏ thắm có lẫn máu tươi của Đồng Bào sinh trưởng và lớn theo con sông Tiền, sông Hậu nghe buồn não nuột! (Đây là chuyện thật, người thật, việc thật. Nếu quí Độc Giả muốn biết rõ tường tận chi tiết xin hỏi cựu Dân Biểu Lê Tấn Trạng đang sống ở San Diego, California USA và người con trai của Cậu Tư của tôi).
Hò… lơ… Sông Cửu Long xuôi dòng rẽ nhánh
Thành sông Tiền, sông Hậu có trước có sau
Mặc cho thủy triều lên xuống, gợn sóng lao xao
Tình người Mỹ Tho sâu thẩm như đáy sông…ơ… hò
Hò… lơ… Em mua lúa Hồng Đào bán ra chợ Gạo
Ven sông tần tảo nuôi bậu học hành
Bậu mần quan mần Trạng
Rạng danh thành “Dân Biểu Bến Tranh”… ơ… hò
Hò… lơ… ai ngờ vận nước tanh bành…!
Trạng manh tâm đưa bạn lên đàng chết oan… ơ… hò
Con chim Uyên Ương lẽ bạn
Con chim Nhạn lạc bầy đàn
Ai bày, ai vẽ nên Sư Đoàn Tiền Giang… ơ… hò?
Hò… lơ… nước phù sa Tiền Giang đỏ thắm!
Vì có máu người Trung Lương pha lẫn nước sông
Dòng Tiền Giang cuồng nộ, làm sạt lỡ đôi bờ…
Chứa bao nhiêu xương trắng sông Tiền lạnh không… ơ… hò!
(Câu Hò Tiền Giang)
Như vậy là tôi đã bị gạt lần thứ hai sau ngày “bên thắng cuộc” cai trị đất nước Việt Nam, và không phải chỉ có riêng tôi, mà còn bao nhiêu oan hồn uổng tử cùng với gia đình họ chịu trăm ngàn đắng cay bên phía “người thua cuộc” bị lừa gạt để tróc nã, đào tận gốc bốc tận rễ và giết hại! Không biết phải dùng ngôn từ gì để diễn tả “quốc sách” phi dân tộc như thế! Bao nhiêu giấy mực để phải viết ra đây phân trần, than thân trách phận ư? Hay nung nấu một nỗi căm hờn nghiến cả hai hàm răng để khỏi bật ra tiếng khóc ai oán tang thương!
Bị Gạt Lần Thứ Ba
Bị gạt lần thứ hai, thoát được thân cũng do số trời định đoạt, nào tôi có muốn như vậy đâu? Vì kháng chiến chống chế độ việt cộng đương quyền là một trò đùa với tử thần, biết như vậy, nhưng lúc đó tôi chẳng có một sự chọn lựa nào khác, cứ mặc kệ đời trôi nổi tới đâu hay tới đó. Cũng may hôm đó chúng không xét nhà, chỉ bắt và dẫn Cha Mẹ cùng đứa em trai của tôi về chấp pháp. Tôi chờ mãi đến tối ngày hôm sau, chị Tư của tôi nhòm trước, ngó sau canh chừng động tĩnh an toàn cho tôi rời khỏi nhà, ra đến quốc lộ 4 đón xe về Sài Gòn, với một ít tiền độ đường mà chị tôi vừa khóc vừa dúi vào túi áo!
“Hổ” lại trở về thành. Thành phố Sài Gòn rực một màu đỏ, trên dưới xa gần, nhà cửa, phố xá, xe cộ, cột điện… đều màu đỏ của máu tươi! Xuống bến xe cảng miền tây, nhảy đại lên một chiếc xe lam sắp rời bến không biết điểm đến nơi nao, xe ngừng ở ngã ba Trần Quốc Toản và Nguyễn Thiện Thuật, tôi nhảy vội xuống xe, đi lang thang với những bước chân vô định, cứ đi, muốn đi thẳng thì đi, muốn quẹo trái, quẹo phải thì quẹo, muốn tới đâu thì tới.
Tới sân đá banh Cộng Hoà gần nhà một người bạn rất thân cùng Khoá 22 Võ Bị Đà Lạt (Trong truyện ngắn này, tôi không thể viết chi tiết và danh tánh vì có liên hệ đến rất nhiều bằng hữu còn đang sống tại Việt Nam và Mỹ! Nhưng Họ mãi là nhân chứng sống cho câu chuyện “Bị Gạt” của tôi). Kéo cái mũ xùm xụp xuống gần mí mắt, tôi gỏ cửa nhà, “bà Chị” (vợ của người bạn thân cùng khoá ) mở cửa, sau phút định thần, với đôi mắt gần như trợn trừng ngạc nhiên Chị thảng thốt:
– Ôi… Trời ơi!… Anh… Anh… hả?
Chị không dám gọi tên tôi vì đã biết mọi chuyện. Chồng chị đã hy sinh trong mặt trận Quảng Trị, chị ở vậy với một đứa con gái nuôi vài ba tuổi và có một người anh họ trước 1975, làm thư ký trong toà Đại Sứ Mỹ, Ông không muốn đi Mỹ, dù có tên trong danh sách di tản sang Mỹ. Chờ khoá cửa xong, chị hỏi thăm năm ba điều rồi dặn dò:
– Ngày mai, đúng 9 giờ sáng, anh tới quán cà phê vỉa hè đối diện với nhà thờ Huyện Sĩ, tôi có nhiều chuyện cần nói với anh!
Lại tiếp tục lang thang, đêm đó tôi ngủ trên chiếc chiếu thuê ở bến xe An Đông.
Đến 8 giờ sáng hôm sau, tôi tìm chỗ khuất sau cây dù của quầy pha cà phê vỉa hè đối diện nhà thờ Huyện Sĩ, chờ đến 9 giờ cũng chưa thấy chị, tới 9 giờ 45, một người đàn ông xa lạ bước đến kéo cái ghế thấp ngồi kế bên tôi và kêu một ly cà phê sữa nóng xong gật đầu chào xã giao và hỏi:
– Anh Út hả?
Một cơn chấn động ớn lạnh dữ dội chạy khắp thân thể gần như không còn giữ được bình tỉnh, hai bàn tay nắm chặt vào nhau và để lên bàn, không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta, tôi nói:
- Vâng thưa anh! Nếu anh là công an theo dõi tôi… thì tay tôi đây, anh cứ còng…!
Ông ta dáng người nhỏ tầm thước, gương mặt bình thản không có một chút sát khí nào, móc túi lấy bao thuốc Samit, châm lửa rồi đưa sang cho tôi xong ông nói một cách chậm rãi:
- Tôi tên H là anh của bà A. Tôi đến đây để giúp anh và anh phải đi ngay…! Anh sẽ đến một nơi tôi nghĩ sẽ thích hợp và an toàn cho anh hơn, tin hay không tùy anh.
Tin hay không? Chỉ có Thượng Đế mới có thể giúp cho tôi lúc này để trả lời tin hay không! Không tin thì tôi phải làm gì và nói gì trong lúc này? Tin thì tôi phải đến nơi nào do ông ta quyết định? Sao định mệnh cứ mãi đưa đẩy thân tôi vào những canh bạc thắng thua bằng chính mạng sống của mình?!
Và rồi đến 2 giờ chiều cùng ngày tôi được thu xếp lên chuyến xe đò đi Long Khánh với lời căn dặn: “Cho đến khi nào anh lơ xe vỗ vai ra dấu thì anh xuống xe…”. Xe chuyển bánh lên đường chạy bình yên cho đến khi đậu lại ven đường, anh lơ xe la lớn:
– Bà con cô bác ai muốn đi tiểu tiện hay mua cà phê nước uống thì xuống xe, chúng ta sẽ nghĩ 10 phút…!
Cùng với cái vỗ nhẹ vào vai tôi. Tôi xuống xe và nơi đây là Ấp Bảo Bình, Xã Bảo Liệt, Huyện Thống Nhất, Tỉnh Long Khánh. Cái quán bên vệ đường là một trạm “giao liên” của tổ chức “kháng chiến” mà họ đưa tôi lên đây. Tôi chỉ biết theo lời hướng dẫn của họ. Người chủ quán pha cho tôi một ly cà phê đá và nói nhỏ:
– Chờ xe chạy có người nói chuyện với anh sau…
“Người” Z20 là ám danh của một cựu Trung Sĩ Pháo Binh thuộc Tiểu Khu Phước Tuy, mà cũng là chỉ huy trưởng đơn vị kháng chiến hiện tại mang tên: “Trung Đoàn Cơ Động Tỉnh Long Khánh”. Tôi được bổ nhiệm làm Trung Đoàn Phó cho anh ta (thằng đang giăng câu). Mẹ kiếp…! Thôi cũng đành nhắm mắt đưa chân, tôi cố ngậm miệng để không bật ra tiếng chửi thề. Suốt đêm đó di hành gần 15 cây số vào tới mật khu Mây Tào của việt cộng trước kia, xa xa nữa là núi Chứa Chan…
Khi trời vừa hừng sáng, Z20 ra “lệnh” cho tôi nghỉ ngơi, chờ đến 2 giờ trưa sẽ giới thiệu đơn vị. Thôi thì cũng một chút niềm vui len lén vào hồn, kháng chiến hay khiến chán cũng là một nơi tạm dung thân ít ra “Hổ” cũng được về rừng…! Buổi trưa, Z20 giới thiệu với tất cả “kháng chiến quân” hiện diện, hắn chỉ định tôi là Z21 Chỉ Huy Phó của Trung Đoàn (?), sau đó giới thiệu vài người thân cận sẽ làm việc bên cạnh tôi, rồi nói sơ qua cho biết:
– Hiện nay Đại Tướng Ngô Quang Trưởng đang là Tổng Tư Lệnh Quân Đội Giải Phóng Việt Nam, Trung Tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến đang ở núi Chứa Chan, Đại Tá Lê Văn Mễ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù ở núi Bà Rá…
Anh ta nói liên miên không ngượng miệng, không có bản đồ, cũng chẳng có một chứng từ gì để trao lại cho Trung Đoàn Phó của anh ta tức là tôi ( sic )…! Nghe tới đây tôi rởn tóc gáy, chợt nghĩ đến chỉ trong một đêm cả Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Tiền Giang bị việt cộng hốt trọn ổ…?! Chỉ có thế, rồi anh ta rời “mật khu kháng chiến” vội vã trở ra cái quán bên vệ đường Quốc Lộ 1 với lý do đi liên lạc với cấp trên để cho tôi toàn quyền quyết định mọi việc.
Quyết định cái gì? “Trung Đoàn” chỉ có 67 “nhơn” mạng: 63 nam, 4 nữ, hầu hết không quá 30 tuổi và một số là dân phạm pháp trốn vào “bưng”, vũ khí chỉ có 7 súng M16, mỗi khẩu có một băng đạn không tới 20 viên đạn, không bản đồ, không máy truyền tin, tình hình “địch” và “bạn” chung quanh vài cây số cũng mù tịt, không có thuốc men khi bệnh hoạn hay ngộ độc thì sẽ làm sao cứu chữa…? Ẩm thực mỗi ngày, mỗi người chỉ ăn được hai bữa vài ba chén cháo với cá khô…!
Kháng chiến kiểu này là tự sát theo thời gian! Tôi đâm ra chán, và những mối nghi ngờ càng ngày càng tích lũy âm thầm trong lòng càng gia tăng. Bài học mới đây với Sư Đoàn Tiền Giang, Sư Đoàn Rạch Giá, vụ án nhà thờ Vinh Sơn chưa ráo mực, chắc chắn rồi mình lại bị gạt rõ ràng như hai cộng với hai là bốn. Cố giữ bình thản dấu đi ánh mắt và những lời nói vô tình làm lộ ý nghĩ trong đầu. Ba ngày trôi qua không có mặt của tên đầu sỏ Z20, đêm đến tôi không ngủ chỗ của mình mà ôm tấm chăn chui vào bụi rậm gần đó, nửa thức, nửa ngủ chờ sáng…
Đến ngày thứ tư, tôi ra lệnh cho Tập và Quang (hai người này đang sinh sống tại Mỹ) theo tôi thám sát chung quanh vùng, nhưng thật sự là để dò tìm con đường an toàn trở ra Quốc lộ 1. Ngày hôm sau tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ. Tôi vẫn ngậm ngùi nghĩ tới họ, nhất là bốn cô gái chỉ vừa tuổi đôi mươi, những “chiến hữu” bất đắc dĩ nầy không biết rõ vì hoàn cảnh nào đưa đẩy họ vào đây…? Nhưng chắc chắn là họ không thể sống bình thường với gia đình nơi sinh ra và lớn lên, và chắc chắn hơn nữa họ không có một khái niệm sơ đẳng nào về việc họ đang làm rất nguy hiểm sẽ đưa đến cái chết oan uổng khi bị việt cộng bắt và xử bắn. Thật tội nghiệp cho họ! Nhưng biết làm sao hơn, vì ngay cả bản thân của tôi cũng đã và đang lâm nguy như cá nằm trong rọ chờ giờ bị tóm cổ!
Tôi âm thầm lặng lẽ rời bỏ họ trên đường trốn chạy tử thần, trong khi họ tin tưởng và hy vọng ở nơi tôi, một cựu Đại Úy Nhẩy Dù tác chiến thứ thiệt, và chắc chắn là chỉ huy kháng chiến “thứ thiệt” vì do cấp trên bổ nhiệm. Tôi bây giờ như con cua bị bẻ hết càng, thân bất độ, độ chi tha nhân, chắc gì cứu lấy được mình, nào dám hé môi nửa lời cứu lấy thân họ, lại nữa biết ai giả ai thật, trí trá vàng thau lẫn lộn, tai vách mạch rừng… đành để họ buông theo số mệnh an bày cho những người “Bạn” trẻ ngây thơ như nai tơ trước đàn sài lang hung dữ, ác độc thèm máu tươi và “năng nổ” lập công, thành tích để trồi đạp lên nhau mà tiến thân rồi mặc sức tha hồ giết người cướp của, thời điểm hưng thịnh bạo ngược là “bình minh cộng sản” (không viết Hoa)!
Rồi từ đó về sau tôi không biết tin tức gì của họ nữa, mãi đến năm 1987 tức 11 năm sau chị A từ Boston gọi điện thoại cho tôi biết anh H vừa sang Mỹ định cư ở Richmond, Virginia. Tôi tức tốc đến thăm gia đình anh, rồi được anh kể lại cho tôi nghe với những giọt nước mắt lưng tròng:
– Sau khi anh Út đi khỏi “chiến khu” rồi, chỉ vài tuần sau đó việt cộng kéo cả một Tiểu Đoàn Bộ Đội và Thiết Giáp càn quét vào đó, tất cả những người đang ở trong “chiến khu” bị giết hoặc bị bắt đi, chỉ có vài ba người trốn thoát được vì đang ở Bảo Bình chờ nhận tiếp tế. Tôi đã bị việt cộng gạt và kéo anh vào cuộc bị gạt luôn với 60 sinh mạng bị bắn giết ở tuổi ngây thơ chưa biết gì về sự tàn ác của việt cộng!
Đêm đó tôi thức suốt đêm với anh H, uống hết chai beer này đến chai beer khác, beer trộn lẫn với nước mắt nuốt vào cổ họng nghẹn ngào bi thương. Làm sao quên được những đôi mắt ngây thơ tin yêu có chút lãng mạn chuyện đội đá vá trời của những “kháng chiến quân” trong mật khu Mây Tàu bị “gài độ” và giờ đây thân xác của họ bị vùi lấp đâu đó nơi xó rừng hoang vu lạnh lẽo. Nào ai biết, nào ai hay để thắp vài nén hương sưởi ấm oan hồn. Đêm đã gần sáng mà những câu chuyện bị gạt bi thương, đau đớn gần như bất tận…
Bị Gạt Lần Thứ Tư
Nay “Hổ” trốn chui trở lại về “thành Hồ” và đã bị sứt móng, như mèo bị cắt tai hoặc thành “cái” con chi chi cũng mặc, gặp ai nói, ai bảo gì cũng đành phải dạ thưa để tìm chỗ dung thân! Ấy vậy mà vẫn còn bị gạt dài dài…! Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” tự hứa từ đây sẽ chôn xuống gốc cây bụi cỏ nào đó cùng với lý lịch “oan khiên” Út Bạch Lan (danh hiệu truyền tin gần như huyền thoại mà cấp Chỉ Huy và bạn bè thân thương “ban” tặng như pháo, càng nổ to tiếng thì tan tành xác pháo thôi) rồi bắt đầu chuyển hướng tìm phương cách vượt biên.
“Vượt Biên” là ngôn ngữ thời thượng trong khoảng thời gian từ năm 1977 - 1980, nhà nhà vượt biên, người người vượt biên. Các hũ vàng chôn dưới nền nhà, chôn dưới cây khế sau nhà, dưới nền chuồng heo, chuồng gà lần lượt được moi móc lên để dâng cúng cho những tay trùm quỷ đỏ qua trung gian của không biết bao nhiêu kẻ chạy cò, móc nối gian manh lường gạt ngay cả thân nhân ruột thịt của mình.
Gia đình tôi là một trong những gia đình nạn nhân trong “quốc sách” bán bãi thu vàng, dollar, tịch thu tài sản của người vượt biên đó! Cả gia đình người Cô ruột của tôi gồm 16 nhân mạng đã chìm sâu dưới giòng sông Cát Lái sau khi đã gom góp tất cả tài sản để đánh đổi với hai chữ “Tự Do”, mà chính họ cùng lơ mơ không hiểu “Tự Do” là gì khi chiếc xà lang nổ tung dìm thân xác họ xuống lòng sông là chứng nhân vô tình, nước vẫn chảy xuôi dòng, cát vẫn trôi lăn vô định. Còn lại bao tiếc thương của những thân nhân họ hàng rơi lệ dầm bâu rồi lại lăn săn lục lạo tìm đường vượt biên!
Năm 1979, một chiếc xà lang chứa cả hơn ngàn nhân mạng được tàu việt cộng kéo ra khơi vượt biên, sau đó trôi dạt vào Pulau Bidong chỉ còn vài chục xác chết! Không biết những giây phút cuối cùng cận tử có ai không trong số đồng bào vượt biên phát giác âm mưu gian trá của bọn quỷ đỏ giết người cướp của mà gào thét: “Bọn quỷ đỏ đã lừa gạt đồng bào” và còn nhớ đã chung bao nhiêu cây vàng cho đám công an tổ chức?
Giấc mơ “Hổ Nhớ Rừng” nay mồ đã xanh cỏ, giấc mơ vượt biên như ở đâu đó còn xa xăm ngoài tầm tay với. Đường bộ ngã Châu Đốc qua Campuchia cũng phải chung vàng, bán chính thức giá mỗi đầu người bốn cây, đi chui thì tệ lắm cũng hai cây. Mở miệng ra nói tới chuyện vượt biên là cây với cây. Với ba lần bị gạt như kính cung chi điểu, con chim bị tên thấy cành cây cong đã hoảng sợ, bây giờ nghe nói đến cây cây là còn lo sợ hơn!
(Còn tiếp)
Trương Văn Út
Mũ Đỏ Út Bạch Lan
(Xin mời xem tiếp Kỳ 2)

Chuyện Ít Người Biết

Vào tối 30 tháng Tư 1975, trong lúc hàng trăm chiếc tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và mấy chục thương thuyền đã rời khỏi Việt Nam, ra đến hải phận quốc tế thì có một tàu của Hải quân Hoa Kỳ bí mật trở lại Việt Nam.
Đó là Hộ Tống Hạm USS Kiqrk.

KÝ ỨC THÁNG TƯ


Gần trưa ngày 30 tháng Tư 1975, khi những người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam và ra đến Đệ Thất Hạm Đội, người chỉ huy tổng quát chiến dịch Frequent Wind - Đô Đốc Donald Whitmire nhận được mấy báo cáo từ mấy thương thuyền của Mỹ đang còn trong hải phận Việt Nam.
Họ cho ông biết rằng tại Đảo Côn Sơn hiện vẫn còn khoảng 30 ngàn người Việt Nam cùng với khoảng 30 chiếc tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và hơn một chục chiếc thương thuyền đang kẹt lại.
Đô Đốc Whitmire lúc đó đang có mặt trên soái hạm USS Blue Ridge của Đệ Thất Hạm Đội. Ngay lập tức ông gọi cho Hạm trưởng Paul Jacobs của chiếc USS Kirk và ra lệnh cho ông này đem chiếc hộ tống hạm của mình với 260 thuỷ thủ các cấp trở lại Việt Nam nhưng đến Côn Đảo chứ không phải Phú Quốc.



USS Kirk
Chiếc USS Kirk tiến vào hải phận Việt Nam vào tối 30 tháng Tư. Sau khi nhận thêm lệnh mới với đầy đủ chi tiết hơn từ Đô Đốc Whitmire, Jacob cho chiếc USS Kirk âm thầm tiến vào Côn Đảo và rạng sáng 1 tháng Năm thì nó đã thả neo sát đảo này.
Theo quân sử gia Jan Herman của Bộ Hải quân Hoa Kỳ, lúc đó có ít nhất trên 30 ngàn thường dân mà trong đó hơn 20 ngàn đã có mặt trên các tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và thương thuyền dân sự. Còn lại hơn 10 ngàn người vẫn còn trên bờ là vì có một số tàu của hải quân cũng như thương thuyền bị trục trặc cơ khí, động cơ không hoạt động nên đồng bào không dám leo lên những chiếc đó. Những chiếc còn hoạt động tốt thì lại không dám bỏ những chiếc hỏng lại mà ra khơi.
Vì thế nên công việc đầu tiên của Hạm trưởng Jacobs là gửi các chuyên viên cơ khí sang những chiếc tàu bị trục trặc cơ khí để sửa chữa cấp tốc.
Sau đó, ông cho những chiếc thuyền nhỏ chạy vào bờ chở bớt một số trong hơn 10 ngàn thường dân ra chiếc USS Kirk của ông.
Trong số tàu bị hỏng, có mấy chiếc không thể sửa chữa tại chỗ vì thiếu cơ phận thay thế.
Vì vậy nên một hộ tống hạm khác của Hải quân Hoa Kỳ là USS Cook đang đậu xa xa ngoài khơi chạy vào để chở cho hết những đồng bào còn lại.
Sau đó, tất cả ra khơi dưới sự hướng dẫn của chiếc USS Kirk.
Khi đã ra đến hải phận quốc tế, có thêm mấy chiếc tàu khác của Hải quân Hoa Kỳ đến tiếp tay.
Đó là những chiếc USS Mobile, USS Tuscaloosa, USS Barbour County, USS Deliver và USS Abnaki.
Thủy thủ đoàn trên những chiếc này đã phục vụ ẩm thực cho đồng bào, chăm sóc sức khoẻ cho họ, và lại còn đảm nhiệm luôn công việc hộ sản nữa.
Nhiệm vụ của họ chỉ chấm dứt khi đoàn tàu đến Vịnh Subic, Phi Luật Tân.
Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ đã không tốt đối với Việt Nam Cộng Hoà chúng ta trong những năm sau cùng, nhưng quân đội Hoa Kỳ thì quả thật đã làm những gì mà quân đội của các quốc gia khác có lẽ không bao giờ dám làm đối với những người không phải là đồng bào của họ.
Riêng về chiếc USS Kirk thì nó được ghi nhận là đã thi hành một sứ mạng nhân đạo chưa từng có trong 
ảnh: 1 tháng Năm, 1975
Chiếc USS Kirk đang hướng dẫn gần 50 tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và thương thuyền dân sự trực chỉ Phi Luật Tân
clip: https://www.youtube.com/watch?v=SzB-1Fkg2_
USS Kirk: Leadership Amidst Chaos, A Legacy of Survival - Abigail WiestUSS Kirk: Leadership Amidst Chaos, A Legacy of Survival - Abigail Ưiest
Việt Cộng Vơ Vét Của Cải Miền Nam Việt Nam Đem Ra Bắc

“Chuyện Đau Buồn Nước Tôi”

Bắc Sơn có khỉ họ Hồ
Đem bầy con cháu đổ xồ vào Nam
Gây bao thảm cảnh lầm than
Dân gian đồ thán nát tan cửa nhà
Con thì mất mẹ mất cha
Bà ôm cháu chạy tránh xa giặc Hồ
Bọn nầy cướp ruộng giựt đồ
Giết người chôn sống côn đồ dã man
Từ ngày cưỡng chiếm miền Nam
Đổi tiền chúng cướp của dân ban ngày
Quân nhân cán chính tù đày
Còn dân chúng bắt đi cày miệt xa
Ngang nhiên chiếm đoạt cửa nhà
Như quân Ming*, Hán tràn vào Việt Nam
30 tháng bốn bảy năm
Là ngày dân Việt bước vào đau thương
Tháng Tư tôi nhớ quê hương
Bao năm vương vấn tiếc thương nghẹn ngào
Tôn Thất Án
4/11/2024
Lúc mới qua đây cuối thập niên 70, tôi có câu đối nầy kèm vào những email gởi cho bạn bè:

“Sáu năm quân ngũ đền ơn nước
Trọn kiếp nam nhi chống giặc Hồ”
TTA
Bây giờ thì đổi lại là:

“Ơn nước chưa đền đầu đã bạc
Hùng tâm báo quốc dạ vẫn còn”
TTA
4/11/24

BMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBMBM



VUI GÌ KHÚC HÁT THÁNG TƯ

"Triệu người vui","triệu người buồn"*
nồi da xáo thịt ngọn nguồn từ đâu
còn nguyên vẹn đó nỗi đau
xin đừng khoét nữa hố sâu hận thù
Vui gì khúc hát tháng tư
sao em ca mãi lời ru cũ mèm
Trả lại ngày trả lại đêm
trả lại sông với êm đềm dòng trôi
Nước non một dải lâu rồi
tháng tư hát mãi lòng người chênh chao
* Ý lời nói của cố TT Võ Văn Kiệt

Lương Định -Sài Gòn 28/4/2022

THÁNG TƯ VỀ....
BUỒN LẮM MẸ ƠI
.

Tháng tư để lại buồn tang tóc
Cô hồn vất vưởng biển sầu đen
Ngàn năm sóng thức ru dâu bể
Biết đến khi nào thôi bấp bênh...
Biển Thái Bình Dương lòng mẹ chảy
Tìm dòng máu đỏ rứt từ tâm
Bao năm còn đó tim không ngủ
Đau giọt tình ru đợt sóng ngầm.
Ngóng tận phương trời xa mù xa
Đứa con trên biển hồn không nhà
Đứa con khập khểnh mua vinh nhục
Còn đứa ở nhà ngạo nghễ ca.
Bài ca tháng tư lòng mẹ nát
Chia làm trăm ngã đón tang thương
Sanh con mỗi đứa lòng đã khác
Trớ trêu tim mẹ chữ vô thường...
Tháng tư để lại màu tang trắng
Chôn cha xuống vực đã chìm sâu
Ầm vào khoảng lặng lời cay đắng
Dòng máu da vàng của tôi đâu....
KIM ÂN

Ngày này năm trước

Cũng ngày này , bốn mươi chín năm trước
Tái tê lòng, ta bỏ nước ra đi
Ta trắng tay, đem theo được những gì ?
Bộ quân phục, túi quân trang, nghi hoặc !!
Không thân nhân, trong lòng đầy thắc mắc
Đi đâu đây, rồi sẽ sống ra sao ?
Nếu ở lại, họ đối xử thế nào ?
Liệu có được, về thăm nhà lần cuối ?
Theo chiến hạm, hai máy full tiền tới
Là thủy thủ, một chuyến cuối hải hành
Dù sa cơ , vì biển mẹ hy sinh
Không buông súng đầu hàng quân giặc cướp!!
Ngày hôm nay, nhắc lại chuyện năm trước
Một kiếp người theo vận nước nổi trôi
Nhìn non sông dần mất vào tay người
Còn dân Việt, đang lùi vào tăm tối
Lối tại ai ? Ai là người có lỗi ?
Lũ tham quan giỏi đục khoét dân lành
Bọn tay sai, toàn một lũ kiêu binh
Hà hiếp dân nhưng lại hèn với giặc
Bốn chín năm, một lời khuyên chân thật
Hãy quay về với tổ quốc đồng bào
Cùng một mẹ, cùng chung giọt máu đào
Chỉ người Việt, mới thương dân nước Việt !
Bốn chín năm, đời tính ra có một
Quê hương mình, chỉ một mẹ không hai
Dù xa xôi, cách trở biển, sông dài
Vẫn mong ước, một ngày ta trở lại
Tháng 4, 2024
VoChieu







Ngày tháng Củ

Tuyết lạnh tan dần trên lối đi
Xuân về lòng ta nhớ nhung chi.....
Thêm một mùa xuân trên đất khách
49 năm ròng rả biệt kinh kỳ....

Lối củ xa mờ dấu chân di....
Thương kỷ niệm xưa tuổi xuân thì
Bao năm xa cách sầu viễn xứ
Môi má hoen màu lệ ướt mi

Đón xuân này tôi lại nhớ xuân xưa
Chao ôi thương quá nói sao vừa
Thôi đừng vương vấn ngày tháng củ
Gạt sầu theo ngày thang đong đưa

Bỏ lại sau lưng nữa chặn đường
Còn bao nhiêu tìm lại chút dư hương
Xuân xưa kỷ niệm ghì chôn chặt
Xuân này gắn bó chút yêu thương ....
DN 30/4/2024

Giọng đọc Dạ Lan tiếng hat Bích Đào

 https://youtu.be/RHPTU4N9loE?si=tmwE1b_wadtGgEUh

NỖI BUỒN THÁNG 4

Trách bao năm tháng bụi mờ
Ngăn sông cách núi đôi bờ đại dương
Đất trời một cõi tha phương
Cuốn theo mây gió nhớ thương muôn trùng
Trách sao năm cũ hãi hùng
Tháng tư ngày ấy khốn cùng ra đi
Dẫu rằng đôi ngã chia ly
Nhất sinh thập tử sá chi tôi đày
Trách chi biển rộng sông đầy
Đại dương to lớn thân gầy tha phương
Lênh đênh sóng nước buồn vương
Tìm miền đất hứa quê hương rã rời
Trách nơi chốn cũ xa vời
Tình ơi xa xứ không lời chia tay
Hành trình làm kiếp đó đây
Tự do khao khát đắng cay nỗi lòng…

Ktd

No comments:

Post a Comment